08. 6269.9991

Xử lý nước thải bệnh viện - phòng khám

20-10-2015
Do đặc thù khám và chữa bệnh, nước thải y tế bao gồm nước thải từ phẫu thuật, điểu trị, khám, chữa bệnh, xét nghiệm, giặt giũ, vệ sinh của người bệnh, nhân viên y tế...

   Nước thải bệnh viện từ các nguồn phát sinh được dẫn về bể thu gom nước thải. Bể thu gom có đặt giỏ chắn rác nhằm loại bỏ các cặn rắn và chất hữu cơ có kích thước lớn, như bao nylon, vải vụn… nhằm tránh gây hư hại bơm hoặc tắc nghẽn các công trình phía sau. Ngoài ra, bể gom còn có tác dụng lắng một phần chất rắn trong nước thải. Sau đó nước thải chảy sang bể điều hòa, bể điều hòa có tác dụng điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải, tránh hiện tượng quá tải vào các giờ cao điểm; Do đó giúp hệ thống xử lý nước thải bệnh viện làm việc ổn định. Trong bể điều hòa có bố trí hệ thống thổi khí nhằm xáo trộn nước thải đồng thời cung cấp oxy nhằm giảm một phần BOD.

Xem Phim sex truc tuyen moi Tuyen chon phim sex y tá hay nhat. Phim sex hiep dam hoc sinh hay. Phim sex co noi dung moi. Phim sex tam ly hay. Xem Phim sex nu sinh Phim sex hoc sinh cap 2 moi. Phim sex hiep dam co giao moi. bu lôn em đi anh ơi moi nhat. dit em hang xom

   Từ bể điều hòa, nước thải được bơm qua bể phân hủy sinh học trong điều kiện thiếu oxy – bể Anoxic. Quá trình này nhằm loại bỏ một phần các chất hữu cơ trong nước thải bệnh viện đồng thời khử Nitơ từ Nitrat do dòng tuần hoàn từ bể hiếu khí. Bể Anoxic là nơi lưu trú của các chủng vi sinh khử N, P, nên quá trình nitrat hoá và quá trình photphoril hóa xảy ra liên tục ở đây. Để khử nitrat hóa thuận lợi, tại bể Anoxic bố trí bố trí giá thể vi sinh, giúp tăng diện tích bề mặt, đẩy nhanh quá trình phát triển và phân hủy các chất hưu cơ của vi sinh vật. Từ bể Anoxic nước thải sẽ tự chảy sang bể xử lý sinh học hiếu khí Aerotank kết hợp với quá trình lọc màng MBR.

 

   Bể anoxic kết hợp Aerotank được lựa chọn để xử lý tổng hợp: khử BOD, nitrat hóa, khử NH4+ và khử NO3- thành N2, khử Phospho. Với việc lựa chọn bể bùn hoạt tính xử lý kết hợp đan xen giữa quá trình xử lý thiếu khí, hiếu khí sẽ tận dụng được lượng cacbon khi khử BOD, do đó không phải cấp thêm lượng cacbon từ ngoài vào khi cần khử NO3-, tiết kiệm được 50% lượng oxy khi nitrat hóa khử NH4+ do tận dụng được lượng oxy từ quá trình khử NO3-.

   Nồng độ bùn hoạt tính trong bể dao động từ 8.000 – 10.000 mg MLSS/L. Nồng độ bùn hoạt tính càng cao, tải trọng hữu cơ áp dụng của bể càng lớn. Oxy (không khí) được cấp vào bể Aerotank bằng các máy thổi khí (Airblower) và hệ thống phân phối khí có hiệu quả cao với kích thước bọt khí nhỏ hơn 10 µm. Lượng khí cung cấp vào bể với mục đích: (1) cung cấp oxy cho vi sinh vật hiếu khí chuyển hóa chất hữu cơ hòa tan thành nước và carbonic, nitơ hữu cơ và ammonia thành nitrat NO3-, (2) xáo trộn đều nước thải và bùn hoạt tính tạo điều kiện để vi sinh vật tiếp xúc tốt với các cơ chất cần xử lý, (3) giải phóng các khí ức chế quá trình sống của vi sinh vật, các khí này sinh ra trong quá trình vi sinh vật phân giải các chất ô nhiễm, (4) tác động tích cực đến quá trình sinh sản của vi sinh vật. Tải trọng chất hữu cơ của bể trong giai đoạn xử lý aerotank dao động từ 0,32-0,64 kg BOD/m3.ngày đêm.

   Trong bể Aerotank có một ngăn đặt hệ thống màng lọc sinh học MBR. Đây chính là điểm khác biệt so với quá trình xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học truyền thống. Thông thường sau Aetotank sẽ là bể lắng cấp II và bể khử trùng. Bể lắng cấp hai làm nhiệm vụ tách bùn hoạt tính ra khỏi nước thải bằng trọng lực. Bùn lắng sẽ được tuần hoàn một phần lại Aerotank để duy trì mật độ vi sinh vật trong bể nhằm ổn định hiệu quả xử lý. Bể khử trùng làm nhiệm vụ tiêu diệt các vi sinh vật có trong nước thải bệnh viện, đảm bảo nước thải trước khi đi vào môi trường phải đạt yêu cầu vể mặt vi sinh. Đối với quá trình xử lý sinh học Aerotank – MBR thì không cần xây dựng bể lắng và bể khử trùng. Hệ thống màng MBR có kích thước lỗ màng bằng 0.4µm nên khi bơm chân không hoạt động nước sạch sẽ được hút qua các mao quản có kích thước bé và đi vào ngăn chứa nước sau xử lý còn bùn hoạt tính và các vi sinh vật sẽ được giữ lại trong hệ thống. Điều này cho phép duy trì mật độ vi sinh vật rất cao trong bể phản ứng. Do vậy hiệu quả loại bỏ các chất ô nhiễm rất cao, nước thải bệnh viện sau xử lý luôn đạt tiêu chuẩn môi trường.

   Bể anoxic kết hợp Aerotank được lựa chọn để xử lý tổng hợp: khử BOD, nitrat hóa, khử NH4+ và khử NO3- thành N2, khử Phospho. Với việc lựa chọn bể bùn hoạt tính xử lý kết hợp đan xen giữa quá trình xử lý thiếu khí, hiếu khí sẽ tận dụng được lượng cacbon khi khử BOD, do đó không phải cấp thêm lượng cacbon từ ngoài vào khi cần khử NO3-, tiết kiệm được 50% lượng oxy khi nitrat hóa khử NH4+ do tận dụng được lượng oxy từ quá trình khử NO3-.

   Nồng độ bùn hoạt tính trong bể dao động từ 8.000 – 10.000 mg MLSS/L. Nồng độ bùn hoạt tính càng cao, tải trọng hữu cơ áp dụng của bể càng lớn. Oxy (không khí) được cấp vào bể Aerotank bằng các máy thổi khí (Airblower) và hệ thống phân phối khí có hiệu quả cao với kích thước bọt khí nhỏ hơn 10 µm. Lượng khí cung cấp vào bể với mục đích: (1) cung cấp oxy cho vi sinh vật hiếu khí chuyển hóa chất hữu cơ hòa tan thành nước và carbonic, nitơ hữu cơ và ammonia thành nitrat NO3-, (2) xáo trộn đều nước thải và bùn hoạt tính tạo điều kiện để vi sinh vật tiếp xúc tốt với các cơ chất cần xử lý, (3) giải phóng các khí ức chế quá trình sống của vi sinh vật, các khí này sinh ra trong quá trình vi sinh vật phân giải các chất ô nhiễm, (4) tác động tích cực đến quá trình sinh sản của vi sinh vật. Tải trọng chất hữu cơ của bể trong giai đoạn xử lý aerotank dao động từ 0,32-0,64 kg BOD/m3.ngày đêm.

   Trong bể Aerotank có một ngăn đặt hệ thống màng lọc sinh học MBR. Đây chính là điểm khác biệt so với quá trình xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học truyền thống. Thông thường sau Aetotank sẽ là bể lắng cấp II và bể khử trùng. Bể lắng cấp hai làm nhiệm vụ tách bùn hoạt tính ra khỏi nước thải bằng trọng lực. Bùn lắng sẽ được tuần hoàn một phần lại Aerotank để duy trì mật độ vi sinh vật trong bể nhằm ổn định hiệu quả xử lý. Bể khử trùng làm nhiệm vụ tiêu diệt các vi sinh vật có trong nước thải bệnh viện, đảm bảo nước thải trước khi đi vào môi trường phải đạt yêu cầu vể mặt vi sinh. Đối với quá trình xử lý sinh học Aerotank – MBR thì không cần xây dựng bể lắng và bể khử trùng. Hệ thống màng MBR có kích thước lỗ màng bằng 0.4µm nên khi bơm chân không hoạt động nước sạch sẽ được hút qua các mao quản có kích thước bé và đi vào ngăn chứa nước sau xử lý còn bùn hoạt tính và các vi sinh vật sẽ được giữ lại trong hệ thống. Điều này cho phép duy trì mật độ vi sinh vật rất cao trong bể phản ứng. Do vậy hiệu quả loại bỏ các chất ô nhiễm rất cao, nước thải bệnh viện sau xử lý luôn đạt tiêu chuẩn môi trường.

Hãy liên hệ với Công Ty TNHH Kỹ Thuật Miền Xanh để được tư vấn miễn phí công nghệ xử lý nước thải - nước thải bệnh viện.

Thông tin liên hệ:

Hotline: 0933350988

Email: info@mienxanh.vn


Dịch vụ của chúng tôi

Dự án của chúng tôi